Author Archives: admin

Cách pha cà phê ngon đúng điệu

Đầu tiên đó phải là cà phê nguyên chất không pha tẩm bất cứ loại đậu nành, bột bắp nào. Để đảm bảo việc này, hãy yêu cầu người bán xay tại chỗ cho bạn thấy. Đó chính là sự chuẩn bị tốt để tiến ành thực hiện cách pha cà phê ngon .

  • Bạn cần có 1 cái phin tốt, thể tích vừa phải để chứa vừa đủ 1 ly cà phê. Không nên dùng phin quá lớn. Phin cầm chắc chắn, nắp phin và gạt nén cà phê phải cứng,  phin chất liệu bằng inox thì càng tốt
  • Tráng phin cà phê qua nước sôi trước để giảm lượng nhiệt mà phin hấp thụ, để khi pha thì cà phê sẽ nhận được lượng nhiệt đầy đủ hơn khiến cho ly cà phê vị đậm và thơm hơn. Sau đó cho ⅓ bột cà phê vào phin, (tỷ lệ cà phê là ⅓ và nước là ⅔. ).
Cà phê LIONKING Premium
  • Rồi dùng gạt ép cà phê vừa phải. Không quá chặt cũng không quá nhẹ. Nếu quá chặt thì cà phê  sẽ khó chảy ra, còn nếu quá nhẹ thì cà phê sẽ ra rất nhạt và bột cà phê sẽ nổi phồng lên. Điều này cần sự kinh nghiệm và quen tay rất cao.
  • Chế nước sôi vào nắp đậy của phin sau đó đặt đáy phin lên trên, cho đến khi nào nước dưới nắp được cà phê hút hết. Quá trình này gọi là “ủ cà phê”.
  • Sau đó chế khoảng 20% nước lên trên cà phê, chờ khoảng 15 – 30 giây, cho cà phê ngấm rồi tiếp tục với 80% còn lại. Chở cà phê rơi xuống đến khi hết nước.
  • Khi cà phê rơi xuống bạn hãy quan sát, cà phê nhỏ từng giọt xuống mỗi giây một giọt thì coi như bạn đã thành công bước đầu. Khi cà phê chảy thành dòng thì do bạn đã chế ít cà phê hoặc ép cà phê không chặt.
  • Nếu bạn muốn thêm đường thì nên chọn đường phèn hoặc đường tán nhỏ, hạn chế sử dụng đường cát trắng vì sẽ không tận hưởng được vị thơm của đường.
  • Hãy đánh tan đường ra trước khi bỏ đá vào nhé. Đá uống cà phê nên chọn viên to, lâu tan thành nước (gọi là đá già trái ngược với đá non).
  • Khi cho sữa thì nên cho 30 – 40% sữa là tốt nhất, đánh đều với cà phê cho đến khi lên bọt.
  • Lưu ý: Để cho cà phê thơm ngon và đậm đà hơn thì nên cho 1 – 2 hạt muối tinh vào ly cà phê đã pha, Cách này làm giảm bớt vị chua trong cà phê. Theo dân gian thì có người cho 1 – 2 giọt nước mắm, nhưng phải là mắm nhĩ loại một.
  • Và cuối cùng nên thưởng thức hết khi còn nóng (nếu là cà phê nóng), hoặc trước khi đá tan hết (đối với cà phê đá).
Các sản phẩm của Tập Đoàn RAINBOW Việt Nam

Cách làm hoa quả sấy dẻo ngay tại nhà

Bạn là một người yêu thích hương vị của những loại hoa quả sấy, tuy nhiên bạn lo ngại về chất lượng của những sản phẩm được mua từ bên ngoài. Đừng lo lắng vì bài viết này sẽ chia sẻ cho bạn công thức làm hoa quả sấy dẻo tại nhà đơn giản và thơm ngon không kém. Hãy cùng thử bắt tay vào làm thôi nào!Cách làm hoa quả sấy dẻo ngay tại nhà

Chanh dây sấy dẻo của Robinson farm

Hoa quả sấy dẻo không chỉ ngon miệng mà còn mang lại những thành phần dinh dưỡng rất tốt cho cơ thể. Làm hoa quả sấy là một phương pháp tạo nên một món ăn có khẩu vị mới lạ và vừa bảo quản hoa quả được lâu hơn. Hãy cùng xem cách làm hoa quả dẻo ngay sau đây nhé!

Bước 1: Chuẩn bị nguyên liệu

  • Bước chuẩn bị nguyên liệu là bước rất quan trọng, bởi chất lượng nguyên liệu chính là chất lượng thành phẩm của chúng ta. Ngoài 2 loại gia vị chính là muối và đường thì hoa quả tươi sẽ là thành phần chủ yếu để tạo nên món hoa quả sấy dẻo.
  • Có nhiều loại hoa quả có thể sử dụng để làm hoa quả sấy ngay tại nhà, tùy thuộc vào sở thích của chính bạn có thể kể đến: cà chua, đu đủ, chuối, dâu tây, dừa, khế, khoai lang, mận, mãng cầu, mít, nhãn, vải,…

 Bước 2: Sơ chế nguyên liệu

Hoa quả rửa sạch, thái lát

Hoa quả rửa sạch, thái lát

Nguyên liệu của bạn cần được sơ chế đúng cách trước khi chế biến. Hoa quả sẽ được sơ chế bằng cách rửa sạch, loại bỏ cẩn thận những phần bị hỏng để tránh bị lan ra các phần khác khi bảo quản. Đối với những loại hoa quả nguyên quả như cà chua, quýt, dâu tây,… thì chúng ta nên ngâm với nước muối pha loãng, có thể dùng tăm đâm các lỗ nhỏ trên vỏ quả để lúc ướp đường sẽ ngấm ngọt hơn. Các loại quả khác chúng ta chỉ cần cắt miếng vừa ăn rồi ngâm với nước muối loãng. Sau đó vớt ra, để thật ráo nước rồi mới chế biến.

Bước 3: Ướp đường nguyên liệu

  • Với những người chỉ muốn thưởng thức vị trái cây tự nhiên thì có thể cho ít đường hơn một chút. Tuy nhiên, nếu chúng ta cho nhiều đường, vị ngọt của hoa quả sấy sẽ đậm đà hơn rất nhiều. Ở bước này, các bạn có thể tùy chọn lượng đường tùy theo sở thích cá nhân. 
  • Thời gian ướp đường thường sẽ khoảng 4 – 5 tiếng cho đến khi đường tan hoàn toàn sau đó mới đền bước tiếp theo

Bước 4: Sấy hoa quả

  •  Cho hoa quả vào khay sấy, xếp thật ngay ngắn, tránh trường hợp chồng lên nhau sẽ khiến hoa quả không được sấy đều. Sau đó bạn sẽ hẹn giờ cho máy sấy ở nhiệt độ phù hợp, nên dưới 80 độ C để đảm bảo đường không bị cháy đen. Bạn nên chọn ở nhiệt độ thấp nếu không có kinh nghiệm và thường xuyên kiểm tra tình trạng sấy để có thể điều chỉnh nhiệt độ phù hợp nhất.

Bước 5: Đóng gói và bảo quản

  • Sau khi hoa quả sấy đã được hoàn thành, bạn mở máy sấy, lấy khay sấy ra và để nguội hoàn toàn trước khi đóng gói. Tại nhà, bạn nên sử dụng bình thủy tinh để bảo quản hoa quả sấy dẻo là tốt nhất.
  • Tuy Nhiên nếu bạn không có nhiều thời gian và lười chuẩn bị thì đã có giải pháp tối ưu hơn dành cho bạn đó là ghé thăm nông trại ROBINSON https://robinsonfarm.vn/ 
  • Robinson Farm 100% Tinh Chất Từ Thiên Nhiên.
  • Từ vùng đất nổi tiếng về thổ nhưỡng đất, cũng như khí hậu nhiệt đới tốt cho cây nông nghiệp: Krungbuk, Buôn Hồ, Đắc Lắc, Việt Nam.
  • Robinson farm đã chắt lọc, tuyển chọn những giống hạt tốt nhất, với quy trình khép kín từ trồng trọt, thu hoạch và chế biến theo tiêu chuẩn Oganic.
  • Robinson farm đã dày công nghiên cứu, tìm tòi và chế biến thành công một công thức bí quyết đặc biệt, cùng với công nghệ tiên tiến cho ra đời các sản phẩm chất lượng: Trái cây 100% tự nhiên.
  • Sản phẩm được làm 100% trái cây, củ, quả, lá, hạt từ thiên nhiên, từ vườn cây đến tay người tiêu dùng, không chất bảo quản, không chất phụ gia thực phẩm, không chất tạo màu, không chất tạo vị, mang đến những cảm nhận tự nhiên nhất, chân thật nhất từ nông sản Việt với khẩu hiệu: “Robinson Farm 100% Tinh Chất Từ Thiên Nhiên”.
  • Đăt mua hàng tại website :https://foodworld.vn/ thế giới ẩm thực trong tay bạn 

Cách bón phân đúng kỹ thuật cho cây cà phê nhà nông tuyệt đối không nên bỏ qua

Bà con cần lưu ý đến những yếu tố như nên bón phân gì và bón phân thời điểm nào là thích hợp nhất để cây cà phê sinh trưởng tốt và cho năng suất cao.

Dưới đây là các thời điểm cần bón phân và loại phân mà bà con nên dùng để bón cho cây:

Năm đầu tiên trồng cây mới

Đây là giai đoạn cây cần sinh trưởng mạnh, do đó bà con nên tập trung bón phân kali và ure. Bên cạnh đó bà con cũng nên bón lót với phân lân cộng phân chuồng để cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và tăng khả năng phát triển của cây.

Sau 2 năm trồng

  • Bắt đầu từ giai đoạn này thì bà con bắt đầu bón phân hóa học cho cây cà phê.
  • Thông thường để thuận lợi hơn cho việc tưới nước và bón phân thì bà con có thể tạo những cái bồn quanh gốc cây cà phê. Khi bón phân vô cơ thì bà con rải phân quanh mép bồn hình vòng tròn, như vậy khả năng hấp thụ dinh dưỡng của cây sẽ tốt hơn. Vì nếu bón phân sát gốc cây thì mức độ khuếch tán cao, cây hấp thụ nhiều phân và thẩm thấu nước ra ngoài khiến cây dễ bị héo và chết gốc.
  • Nếu thời tiết nắng nóng và bà con cũng chưa kịp cung cấp nước ngay cho cây cà phê thì bà con có thể trộn lẫn phân vào lớp đất mặt. Thời điểm này cây vẫn chưa có trái nên bà con vẫn chưa cần phải bón phân lân.

Phân hữu cơ

  • Bà con nông dân có thể đào rãnh 2 bên mép cây cà phê với chiều sâu 30 – 40cm, rộng 30cm và chiều dài phụ thuộc vào chiều rộng của tán cây, có thể từ 1-1,5m. Bà con sau khi đào rãnh thì bón phân hữu cơ vào và lấp đất lại, như vậy cây sẽ có thời gian hấp thụ phân và dinh dưỡng. Thêm vào đó, đất ở gốc cây cũng được làm giàu hoạt chất hơn, giúp cây tăng trưởng tốt hơn.
  • Cần lưu ý rằng: chỉ nên bón phân hữu cơ đã hoai mục, vì phân đã hoai mục có nhiều vi sinh vật có lợi. Sau khi bón vào đất kết hợp với độ ẩm sẽ giúp những vi sinh vật này phát triển nhanh hơn, đồng thời quá trình khoáng hóa cũng xảy ra nhanh hơn. Giúp cây hấp thụ được dinh dưỡng nhiều hơn và nhanh hơn.
  • Ngược lại, phân chưa hoai mục chứa nhiều nấm và côn trùng có hại, nếu bón phân tươi như vậy sẽ gây bệnh cho cây trồng đồng thời quá trình phân hủy hữu cơ cũng xảy ra chậm hơn, cây hấp thụ ít dinh dưỡng hơn.
  • Trên đây là những lưu ý và thời gian thích hợp để bà con nông dân chăm bón cây cà phê cho hiệu quả nhất. Chúc bà con thành công cùng với vụ mùa bội thu

Các bước pha trà

Đây là cách pha trà 7 bước được Rainbow khuyến khích. Các bạn cần có: trà, ấm chén và chuyên trà để bắt đầu

  1. Đun nước : Một lần nữa chắc chắn rằng nước bạn có là nước đóng chai đã được lọc, không phải nước khoáng hay nước máy. Hầu hết các loại trà đều pha trà dưới nhiệt độ sôi, trong khoảng 75°C – 98°C tuỳ loại.
  2. Làm nóng ấm chén: Khi ấm đun nước gần đạt độ sôi, bạn rót nước vào ấm, đậy nắp lại. Khi ấm trà nóng lên, bạn rót hết nước ra chuyên trà và các ly.
  3. Đong trà : Cho trà vào ấm, lượng trà ít nhiều tuỳ từng loại. Thông thường là 1/5 đến 1/2 ấm trà.
  4. Đánh thức trà: rót nước nóng ngập trà và đổ đi càng nhanh càng tốt..
    • Đây không phải là nước để uống. Nó có tác dụng “đánh thức” để các lá trà bắt đầu nở ra.
    • Nước nóng đánh thức trà không phải là nước sôi.
  5. Hãm trà: Đổ nước nóng vào đầy ấm, đậy nắp ấm và hãm trà trong khoảng 10-40 giây tuỳ loại trà. Đây là công đoạn quan trọng nhất. Hãy đảm bảo nhiệt độ nước và thời gian hãm phù hợp với loại trà.
  6. Rót trà: sau 10-40 giây, rót hết nước từ ấm trà vào chuyên. Rồi từ chuyên mới rót ra các chén uống trà. Chuyên trà lúc này rất quan trọng, giúp bạn ngừng ngay quá trình hãm trà trong ấm. Bạn nên rót nhanh và rót hết nước trong ấm ra chuyên.
    • Đảm bảo nước trong ấm được rót ra hết, không để nước dư trong ấm.
    • Mở nắp ấm sau khi rót trà ra chuyên, để trà không bị “nẫu” vì nhiệt độ cao trong ấm.
  7. Hãm trà lần tiếp theo : Lặp lại bước 5 và bước 6 cho các lần pha tiếp theo. Lần hãm sau thường có thời gian lâu hơn so với lần pha trước.
    • Nếu nước trà đầu tiên quá nhạt hoặc quá đậm, hãy điều chỉnh thời gian ở lần hãm tiếp theo.
    • Trà ngon và pha khéo, bạn có thể lặp lại 5-8 lần hãm trà, trước khi hương vị trở nên quá nhạt.

Một số mẹo nhỏ giúp pha trà ngon

  1. Hãy bắt đầu với những chiếc ấm nhỏ và thành mỏng, mọi thứ sẽ dễ dàng hơn nhiều. Nếu bạn mới bắt đầu, nên chọn một chiếc ấm thủy tinh hoặc ấm sứ để pha trà. Hai loại ấm này sẽ phản ánh trung thực vị trà, và không để lại mùi, nên bạn có thể pha được nhiều loại trà khác nhau.
  2. Nước máy không thể phà trà được. Đơn giản nhất là dùng các loại nước đóng chai (nhưng không phải là nước khoáng)
  3. Không cần có nhiệt kế để đo nhiệt độ. Bạn có thể giảm nhiệt độ nước bằng cách đun sôi và để nguội dần. Nước đun trong bình siêu tốc, sau 5 phút sẽ giảm còn khoảng 83°C
  4. Sợi trà nhỏ, mỏng, xốp pha nhiệt độ thấp. Sợi trà lớn, chắc pha nhiệt độ cao. Trà xanh pha nhiệt độ thấp hơn. Trà ô long, trà đen cần nhiệt độ cao hơn.
  5. Nếu muốn hương vị đậm hơn, hãy tăng lượng trà, không phải tăng nhiệt độ hay ngâm lâu hơn.
  6. Không có một đáp án hoàn toàn chính xác về nhiệt độ nước, thời gian pha và định lượng trà cho mỗi loại trà. Hãy thử gia giảm 3 yếu tố đó để khám phá đáp án của chính bạn
Các sản phẩm Trà pha ấm của Robinson Farm

Cà phê sữa đá của Việt Nam ngon nhất thế giới

Trong danh sách 15 thức cà phê ngon nhất thế giới do tạp chí du lịch Condé Nast Traveler (Mỹ) bình chọn, cà phê sữa đá của Việt Nam đã được xướng tên.

  • Tạp chí du lịch Condé Nast Traveler đã vừa đăng tải một bài giới thiệu về những tách cà phê ngon nhất thế giới và nơi để người ta có thể thưởng thức những tách cà phê tuyệt ngon đó, chi tiết ấn tượng nhất là cà phê sữa đá của Việt Nam đã góp mặt trong 15 tách cà phê ngon nhất thế giới theo đánh giá của tờ tạp chí du lịch nổi tiếng này.
  • Condé Nast Traveler cho rằng thói quen thưởng thức cà phê trong đời sống thường nhật đã tạo thành một nét văn hóa trên toàn thế giới, từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây, từ thượng lưu cho tới bình dân, từ người bận rộn tới người nhàn tản, cà phê đã trở thành một thức đồ uống đa phong cách, có thể biến hóa linh hoạt để phù hợp với từng nền văn hóa, từng đối tượng thưởng thức.
  • Condé Nast Traveler đã khuyên độc giả của mình rằng từ giờ, khi có dịp ra nước ngoài, đừng vội tìm đến những chuỗi cửa hàng cà phê “sang chảnh” có thương hiệu nổi đình nổi đám trên khắp thế giới mà hãy tìm tới những tách cà phê mang đậm bản sắc văn hóa bản địa.Hiện tại Rainbow đang có dòng sản phẩm  Cafe Hoà Tan Lion 3in1 Gu Sữa Đá Việt Nam mang đến cho Quý khách hàng sự trải nghiệm rõ nét và chân thật nhất về hương vị Cà phê Sữa đá Việt Nam.

9 cách để phân biệt cà phê thật và cà phê giả

Nhiều người tiêu dùng hoang mang, không biết cách làm như thế nào để có thể phân biệt cà phê thật – giả, và lại càng không biết làm sao phân biệt cho đúng và đơn giản nhất.

  • Cà phê là một loại hạt rất đặc biệt và cũng rất khác biệt, có thể dễ dàng phân biệt cà phê nguyên chất và không nguyên chất, bột cà phê với bột của các loại hạt ngũ cốc khác. Để bảo đảm cho sức khỏe và khẩu vị thưởng thức cà phê nguyên chất, người tiêu dùng cần ghi nhớ một số chi tiết cơ bản về thuộc tính cà phê.
Cà phê hạt Lion Café

1, Xét về khối lượng riêng

  • Khối lượng (hoặc thể tích) của bột cà phê rang bao giờ cũng lớn hơn khối lượng (hoặc thể tích) của bột hạt đậu nành (đỗ tương) và bắp (ngô) rang.
  • Hạt cà phê có một đặc điểm khác hẳn các loại hạt khác là khi rang lên đến 1 nhiệt độ nhất định sẽ nở lớn và thể tích tăng từ 1,5-2 lần và trọng lượng giảm từ 20-30%.
  • Cho nên, bột cà phê thật luôn luôn có khối lượng riêng thấp hơn bột các loại ngũ cốc khác và từ đó thể tích (hay khối lượng) của 1 kg bột cà phê luôn luôn lớn hơn thể tích của bột các loại ngũ cốc rang.
  • Nếu có điều kiện so sánh, hãy thử cầm trong tay trong 2 bịch 500g, bịch nào chứa cà phê, (hay chứa tỷ lệ bột cà phê nhiều) thì sẽ đầy hơn, to hơn, khối lượng bột chứa bên trong nhiều hơn nên chúng ta có cảm tưởng bịch cà phê nguyên chất nhẹ hơn. 

2, Xét về độ xốp của bột cà phê

  • Nhìn theo cảm quan, bột cà phê nguyên chất rất nhẹ, có độ xốp, tơi và rời. Bột của hạt ngũ cốc khác thường dính lại, ít tơi bong hơn. Nếu có 1 bịch cà phê nguyên chất và một bịch cà phê giả, hãy thử mở 2 bịch ra, lấy 2 chén nước, múc 2 muỗng bột của 2 bịch đổ lên mặt nước. Bột cà phê nguyên chất xốp nhẹ, có khối lượng riêng thấp, nên có khuynh hướng nổi lên trên, còn bột của các hạt ngũ cốc khác có khối lượng riêng lớn hơn, nên chìm xuống nhanh hơn.
  • Ngoài ra, hạt cà phê rang rất giòn, có cấu trúc sợi cellulose đồng đều, dễ vỡ và vỡ đều trong cối xay, nên bột cà phê xay ra có độ xốp, mịn tương đối đồng đều. Trái lại các loại hạt đậu, bắp rang, khi xay bột độ mịn không đồng đều nên không có độ tơi xốp như bột cà phê nguyên chất.

3, Độ mịn bột cà phê

  • Bột cà phê nguyên chất xay ra có độ xốp, mịn tương đối đồng đều. Tuy nhiên, hạt đậu, bắp rang, khi xay bột độ mịn không đồng đều, bột xay ra to nhỏ khác nhau, có ánh lên một số hạt xay to hơi óng ánh là màu của đậu nành xay.

4, Xét về màu của bột cà phê

  • Khi rang đến nhiệt độ và thời gian thích hợp…bột cà phê nguyên chất có màu nâu đậm. Nếu hạt cà phê rang chưa đến nhiệt độ và thời gian nổ lần 1, tức là ở giai đoạn medium (rang vừa) hoặc light (rang nhạt), thì bột có màu vàng sáng vị chua, và mùi nồng. Hạt bắp rang để độn vào cà phê thường có màu “đen” đậm. Nếu bạn nhìn thấy bột trong 1 bịch cà phê có màu nâu đậm ngã vàng, thể tích nhỏ, nhưng cầm nặng tay là tỷ lệ đậu nhiều. Bột cà phê có màu đen thui thể tích cũng nhỏ là có trộn nhiều bắp.

5, Mùi của bột cà phê

  • Nhiều người vẫn bị nhầm lẫn và đánh giá cao mùi của hương liệu hóa học được tẩm vào đậu, bắp bởi vì họ ít có dịp ngửi mùi cà phê bột nguyên chất.
  • Bột cà phê nguyên chất có mùi vị rất dễ chịu, đặc trưng. Ngược lại, bắp và đậu nành có mùi hơi tanh, gắt và mùi hăng hắt của hương liệu tẩm vào, bao gồm mùi caramen và chất tạo mùi cà phê.   

6, Xét về trạng thái bột cà phê nguyên chất khi pha

  • Đây là điểm rất dễ dàng nhận biết để phân biệt chính xác cà phê nguyên chất với cà phê độn hay bột của các loại hạt ngũ cốc khác. 
  • Khi chế nước sôi 100 độ C vào phin chứa cà phê thật, lập tức bột cà phê sẽ nở phồng lên, sủi bột mạnh, thậm chí tràn ra cả ngoài phin. Nếu sau khi cho vài muỗng bột (khoảng 20-25g) vào phin, bạn chế nước sôi vào mà thấy bột trong phin không nở phồng lên, trái lại còn bẹp xuống, lịm xuống và bốc mùi thơm thì chắc chắn trong phin có rất rất ít cà phê, và thậm chí trong loại bột này có tỷ lệ phần trăm rất nhiều bột của các loại hạt khác được tẩm hương liệu nhân tạo nồng độ cao.
  • Bột bắp, bột đậu rang khi gặp nước sôi trở nên dẻo, dính và xẹp xuống do các loại ngũ cốc luôn có chứa nhiều tinh bột. Trái lại cà phê được cấu tạo bởi các hợp chất cao phân tử cellulose, chứa rất ít tinh bột. Quá trình rang hạt cà phê nở lớn, bên trong tạo ra các khoang không khí, gặp nước sôi, không khí bên trong nở lớn, làm sủi bọt bột cà phê và khiến bột cà phê thật trào lên trong phin. 

7, Độ sánh của nước cà phê

  • Nước của ly cà phê nguyên chất có độ sánh hầu như không đáng kể. Nước của bột cà phê độn bắp rang hay bột đậu rang chứa rất nhiều tinh bột, nên rất sánh, rất đặc kẹo, thậm chí là sánh dẻo. 

8, Xét về hương và vị của cà phê

  • Cà phê khi rang với thời gian đủ và đạt đến nhiệt độ thích hợp sẽ cho ly cà phê nguyên chất có vị đắng thanh xen lẫn vị chua nhẹ nhàng. Vị chua thanh nhẹ nhàng này khác với vị chua của cà phê bị hư do tinh bột để qua đêm. 
  • Nếu quen với mùi cà phê nguyên chất thì sẽ phát hiện ra mùi hóa chất tuy giả khá giống mùi cà phê nhưng vẫn là giả, vẫn mang hương vị gay gắt, tuy mạnh mẽ, dai dẳng và gây cảm giác nặng nề, không giống như mùi thanh của chính hạt cà phê đích thực…
  • 9, Bọt của cà phê
  • Cà phê nguyên chất khi đánh lên với đường cũng tạo ra 1 ít bọt màu nâu sáng rất đẹp, đồng đều về kích cỡ, đục hơn, trông dày hơn nhưng nhanh xẹp xuống. Nhưng có 1 số người tiêu dùng ngộ nhận và yêu cầu quá đáng về ly cà phê phải có bọt đẹp. Để đáp ứng đòi hỏi của khách hàng hầu giữ khách và thu lợi nhuận, một số nhà sản xuất cho chất tẩy rửa bề mặt vào cà phê để tạo bọt. Nếu bọt mỏng tanh, có óng ánh màu cầu vồng, đánh lên đầy cả ly và rất lâu tan nhìn ly cà phê có vẻ khá đẹp thì chắc chắn đấy là bọt của nước tẩy rửa.

7 lợi ích sức khỏe của hạt điều

7 lợi ích sức khỏe của hạt điều

  • Cây điều có nguồn gốc từ vùng Đông Bắc Brazil, được trồng rộng rãi ở các vùng nhiệt đới. Ấn Độ và Nigeria là nước sản xuất các sản phẩm điều rất lớn và uy tín. Ngoài ra, cây điều còn được trồng ở Việt Nam, Bờ Biển Ngà, Pakistan và Indonesia. Tuy nhiên, khi nói đến cây điều, người ta chủ yếu nói đến hạt của loại cây này bởi hạt điều có khả năng ngừa ung thư, nuôi dưỡng tóc và da, chăm sóc cho sức khỏe của xương, giảm cân, ngăn chặn sỏi mật và nhiều lợi ích sức khỏe khác.

1. Ngăn ngừa ung thư

  • Hạt điều chứa proanthocyanidins – được chứng minh là loại flavonoid có thể ngăn chặn các tế bào ung thư tái sản xuất và tiêu diệt tế bào ung thư. Trong thực tế, các nghiên cứu cho thấy hàm lượng đồng cao trong hạt điều cũng giúp tránh khỏi các gốc tự do cũng như cung cấp nguồn phytochemical và chất chống oxy hóa có lợi cho cơ thể.

2. Nuôi dưỡng tóc và da

Hạt điều rất giàu hàm lượng đồng – một thành phần cấu thành quan trọng của tyrosinase. Loại enzym này giúp chuyển đổi tyrosin thành melanin – tạo ra các sắc tố màu trong tóc và da.

Hạt điều
Hạt điều có khả năng ngừa ung thư, chăm sóc cho sức khỏe
  • Hạt điều có chứa lượng axit oleic phong phú. Loại chất béo không bão hòa đơn này giúp cải thiện sức khỏe tim mạch và làm giảm nồng độ triglyceride. Ngoài ra, magie trong hạt điều có thể giúp giảm huyết áp và ngăn ngừa các cơn đau tim. Bệnh mạch vành và nguy cơ tim mạch có thể được giảm bằng cách thường xuyên ăn hạt điều do không chứa cholesterol và chất chống oxy hóa.

4. Tốt cho sức khỏe của xương

  • Hạt điều cũng chứa magie – một khoáng chất bổ sung và kết hợp với canxi để tái tạo thành phần của xương. Ngoài ra, đồng trong hạt điều cung cấp sự linh hoạt cho xương và khớp.

5. Tốt cho thần kinh

  • Không chỉ tốt cho xương, hàm lượng magie trong hạt điều cũng cung cấp lợi ích cho hệ thần kinh và cơ bắp. Magie giữ cho các mạch máu và cơ bắp được thả lỏng và nghỉ ngơi bằng cách làm chậm dòng chảy của canxi vào các tế bào thần kinh.
  • Nghiên cứu này chứng minh rằng magiê giúp giảm tần suất các cuộc tấn công đau nửa đầu, hạ huyết áp và giúp ngăn ngừa các cơn đau tim. Ngược lại, thiếu magiê trong cơ thể có thể gây ra cao huyết áp, căng cơ và mệt mỏi.

6. Cải thiện chức năng não

  • Hạt điều có thể giúp tăng oxy lên não. Hạt điều đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện trí nhớ. Điều này là do các chất béo không bão hòa đa, chất béo không bão hòa đơn – 2 loại chất béo có tác động đến quá trình sản sinh tế bào não. Điều tuyệt vời là hạt điều có hàm lượng cao cả 2 loại chất béo này.

7. Giảm cân

Những người ăn hạt điều 2 lần/tuần có xu hướng tránh được béo phì. Khoảng 75% chất béo chứa trong hạt điều là chất béo không bão hòa – một chất béo tốt cho cơ thể.

  • Ngoài ra, hạt điều có chứa một lượng lớn chất xơ. Chất béo tốt trong hạt điều có thể giúp bạn giảm cân mà vẫn cung cấp nhiều năng lượng cho cơ thể. Hạt điều cũng giúp tạo thuận lợi cho sự trao đổi chất của cơ thể.Hiện tại Rainbow có các dòng sản phẩm Hạt Điều
  • Được lựa chọn kỹ lưỡng từ những hạt điều tươi qua quy trình khép kín sấy và đóng gói, không những đảm bảo nguyên vẹn hương vị đặc trưng và thành phần dinh dưỡng của hạt điều, mà Hạt Điều Vỏ Lụa Rang Muối Robinson Farm còn sở hữu những hạt đều, chắc, to và đẹp mắt với màu vàng nhạt thể hiện độ mới của sản phẩm. Đặc biệt, hàm lượng đường rất ít trong sản phẩm, điều đó rất có lợi cho sức khỏe người tiêu dùng

Vlogger nổi tiếng của Mỹ khen cà phê Việt Nam ngon nhất thế giới

 Nếu như bạn đang phân vân không biết cà phê Việt Nam của chúng ta trong mắt du khách nước ngoài sẽ như thế nào thì…Một tin vui cho bạn đây, vlogger người Mỹ nổi tiếng đã tấm tắc khen rằng cà phê Việt Nam không chỉ ngon mà còn là NGON NHẤT THẾ GIỚI!!!

“Tại Việt Nam, cà phê không chỉ đơn giản là một loại đồ uống. Đó là niềm tự hào và giá trị truyền thống của người Việt. Dù bạn thích hay không thích cà phê, bạn chắc chắn sẽ yêu món cà phê Việt Nam” – Markian Benhamou (Vlogger nổi tiếng người Mỹ)

Chàng trai này chính là Markian Benhamou sinh năm 1998, một Vlogger đầy triển vọng và đang ngày càng được giới trẻ yêu mến. Facebook cá nhân của chàng trai này sở hữu 4,1 triệu người theo dõi, kênh Youtube cá nhân đăng tải các video hài hước với 410,000 người đăng ký.

Video này được Markian đặt tên là Coffee in Vietnam (Cà phê ở Việt Nam), hiện tại video đã đạt hơn 4,2 triệu lượt xem, 14.000 lượt chia sẻ và hơn 6.000 bình luận trên Facebook. Được biết trong chuyến thăm Việt Nam gần đây cùng 2 Vlogger nổi tiếng khác là Nuseir Yassin (chủ kênh Nas Daily) và Agon Hare (chủ kênh Project Nightfall), Markian đã có cơ hội thưởng thức cà phê Việt Nam. Anh ca ngợi Việt Nam như một quốc gia có cà phê ngon nhất thế giới.

Vlogger Markian Benhamou Khen Cà phê Việt Nam ngon nhất thế giới

Mở đầu video, Markian ngay lập tức khẳng định anh không uống cà phê vì nó đắng, đắt và rất dở. Tuy nhiên sau khi thưởng thức cà phê tại Việt Nam, anh rất ngạc nhiên về hương vị của chúng, thậm chí anh chàng trai còn khẳng định rằng: “Việt Nam là quốc gia tuyệt vời nhất trên thế giới để bạn thưởng thức cà phê”

Anh nhận định Việt Nam là quốc gia có cách chế biến cà phê rất khác biệt. Thủ phủ cà phê của châu Á có thể pha chế cà phê với dừa, sữa đặc, và trứng và lạ thay chúng rất ngon thay vì chỉ pha chế với sữa tươi như các quốc gia khác.

Cũng ở Việt Nam, Markian nhận ra chỉ có 40 cửa hàng Starbucks đã xuất hiện tại đây. Anh lý giải người Việt chuộng các quán cà phê nội với mức giá phải chăng hơn là uống cà phê tại chuỗi đồ uống hàng đầu thế giới. Số tiền bỏ ra cho 1 cốc Starbucks có thể mua được 10 cốc cà phê bình thường tại Việt Nam.

Markian cũng đặc biệt ấn tượng với món cà phê phin, khi người thưởng thức phải đợi tới 30 phút để từng giọt cà phê chảy xuống lớp sữa đặc phía dưới. Tuy nhiên đây cũng là quãng thời gian họ có thể dành để trò chuyện với bạn bè, hoặc suy nghĩ về các vấn đề riêng của mình.

“Thưởng thức cà phê phin và bạn sẽ yêu luôn món cà phê tại Việt Nam. Tôi chưa bao giờ thích cà phê nhưng tôi đang dần bị chinh phục rồi đấy”, Markian chia sẻ.

Vlogger Markian Benhamou Khen Cà phê Việt Nam ngon nhất thế giới

Sau khi trải nghiệm cà phê Việt, Vlogger người Mỹ đã thay đổi quan điểm về cà phê. Anh nói: “Cà phê ở đây rẻ và ngon. Nó ngọt lịm!”. Tuy nhiên, Vlogger 21 tuổi cũng cảnh báo người xem rằng đừng để vị ngọt đánh lừa bởi cà phê Việt Nam khá mạnh. Trong một vài trường hợp, người uống cà phê có thể bị run rẩy, đi đứng loạng choạng.

Để kết lại, Vlogger Mỹ nhận định: “Tại Việt Nam, cà phê không chỉ đơn giản là một loại đồ uống. Đó là niềm tự hào và giá trị truyền thống của người Việt. Dù bạn thích hay không thích cà phê, bạn chắc chắn sẽ yêu món cà phê Việt Nam”.

Ngay phía dưới, video chia sẻ về món cà phê Việt Nam của Markian đã nhận được nhiều sự ủng hộ và phản hồi từ cộng đồng Facebook. 

Việt Nam như một quốc gia có cà phê ngon nhất thế giới

Tạm dịch: Tò mò về món cà phê trứng là một trong những lý do khiến tôi đến Hà Nội. Tôi yêu hương vị của cà phê trứng. Em tôi, dù không phải fan của cà phê, cũng thích món này. Chúng tôi cũng thử nhiều loại khác như cà phê sữa, cà phê sữa dừa, cà phê phin. Nghe có vẻ kỳ lạ nhưng hãy chờ đến lúc được thưởng thức và bạn sẽ hiểu, các món này sẽ không làm bạn thất vọng. Tôi chưa bao giờ thưởng thức loại cà phê nào tuyệt vời như cà phê Việt Nam, một món chắc chắn ai cũng phải thử.

Đánh giá khách hàng được uống cà phê Việt Nam

Tạm dịch: Tôi đã từng uống cà phê Việt Nam khi tôi đến TPHCM vào năm ngoái. Mùi rất thơm và vị rất tuyệt vời.

Cách đây không lâu, CNN cũng bình chọn Việt Nam là 1 trong 9 nơi uống cà phê ngon nhất thế giới. Nghe đến đây, bạn đã thực sự tự hào về cà phê của Việt Nam chúng mình chưa? Chúng tôi thì có đấy! 

Văn hóa uống cà phê độc nhất của người Australia

 Peter Baskerville, thành lập, sở hữu và đồng quản lý 15 quán cà phê ở Australia cho biết: “Tôi đã trở thành một phần của nền văn hóa uống cà phê Úc kể từ năm 1986 khi tôi mở quán cà phê đầu tiên của tôi ở Sydney, bán cà phê Espresso được thực hiện với hạt cà phê rang Vittoria”

Điều duy nhất về cà phê Úc và văn hóa uống cà phê tại đây như một quốc gia. Nhiều người còn bị ám ảnh bởi cách uống cà phê ở đây dù họ biết mình đang sống trong một quốc gia có thị trường cà phê phát triển bậc nhất thế giới. Có rất nhiều thương hiệu cà phê nổi tiếng ở phía Bắc di chuyển thương hiệu của mình xuống Australia và đã không gặt hái được thành công như mong đợi như Starbucks. Họ đã mở đến 84 cửa hàng, phô trương quá lớn vào năm 2000 sau đó 8 năm, 61 cửa hàng trong số đó buộc phải đóng cửa vì doanh thu không đủ duy trì cửa hàng. Họ không thể cung cấp được những tiêu chuẩn chất lượng cà phê cao mà người Úc cần, nơi mà họ thưởng thức cà phê là tại những cửa hàng độc lập.

Làm thế nào một quốc gia có thể cô lập với phần còn lại của thế giới điển hình như một hãng cà phê đẳng cấp quốc tế như Starbucks? Câu trả lời nằm trong hành lý của một vài người nhập cư Hy Lạp và Ý, những người đã đến Úc trong những năm đầu của thế kỷ 20.

Những người nhập cư đó đã mang theo chiếc máy pha cà phê Gaggia trong hành trang của họ. Họ yêu cà phê Espresso và họ muốn chia sẻ kinh nghiệm này với bạn bè ở những vùng đất mới. Ngay lập tức, mạng lưới phân phối các cửa hàng cà phê rang xay mang phong cách Ý ngập tràn các đường phố lớn ở Australia.

Tuy nhiên, đến năm 1950, văn hóa uống cà phê chất lượng dần mất gốc ở Australia và sau đó nó trở lại mạnh mẽ trong năm 1980 bởi những tiêu chuẩn vàng cho những cửa hàng cà phê được sử dụng đến tận ngày nay. Nhưng không phải quán cà phê nào cũng đạt được những tiêu chuẩn này, cà phê Espresso chất lượng có thể tìm thấy ở bất cứ đâu trên đất Úc.

Lịch sự phát triển cà phê của Ý/Hy Lạp độc đáo và phong phú này đã tạo nên sự khác biệt trong lối sống và phong cách uống cà phê của người Úc.

95% trong số 6.500 quán cà phê tại Úc đang sở hữu thuộc dạng quán cà phê độc lập. Công ty nghiên cứu IBISWorld báo cáo rằng “Không có bất kỳ công ty nào có thị phần chi phối trong ngành công nghiệp này”.

Starbucks đã thất bại trong việc được thị trường Úc chấp nhận: Chỉ có một số ít các chuỗi cà phê tại Úc cùng nhau tạo nên khoảng 5% của thị trường. Gloria Jeans, Hudson và The Coffee Club là các chuỗi cà phê lớn tại Úc với khoảng 300 cửa hàng.

Chuyên gia pha chế tại Úc được Chính phủ ủng hộ công nhận trình độ học thuật quốc tế SITH AB204 thì mới được phép pha chế và phục vụ Espresso.

Cũng giống như Ý, không có thị trường thương mại tại Úc đối với cà phê Espresso. 80% toàn bộ thị trường cà phê ở Úc là cà phê hòa tan nhưng nó được tiêu thụ hoàn toàn tại nhà hoặc văn phòng.

Mặc dù với số lượng nhỏ nhưng Australia vẫn được biết đến là quốc gia phát triển và xuất khẩu cà phê Arabica với chất lượng riêng của họ. Với các đồn điền ở phía Bắc Queensland (Skybury) và phía nam cũng như Coffs Harbour ở New South Wales, người trồng cà phê ở Úc được hưởng lợi từ đất núi lửa màu mỡ và khí hậu môi trường xung quanh sương giá. Điều kiện khí hậu của Úc làm hương vị cà phê trở nên hấp dẫn hơn. Cà phê của Úc là một trong những loại cà phê được sản xuất một cách tự nhiên nhất trên thế giới. Tiêu thụ cà phê đã tăng trưởng nhanh chóng trong vòng 50 năm qua từ 1.2kg bình quân đầu người lên khoảng 4.0kg bình quân đầu người trong năm 2011.

90% cà phê được bán trong các quán cà phê là Cappuccino, thức uống phổ biến nhất. Tuy nhiên, không giống như Ý, người Úc uống Cappuccino cả ngày trong khi đối với người Ý, họ chỉ uống vào buổi sáng. Ngoài ra, chủ yếu là người Ý uống Espresso trong khi nền văn hóa Úc đã thích nghi với những trải nghiệm cà phê Ý bằng việc tiêu thụ trong nước.

Nước Úc còn có một loại cà phê đặc biệt với tên gọi “Flat White”. Nó là một cà phê Espresso được làm như Cappuccino nhưng không có socola rắc.

7 đồ uống ở Úc mà chiếm đến 95% đơn đặt hàng cà phê như Fringe, Macchiato , Doppio, Vienna, Mocha Vienna,…còn lại 5% dành cho Ristretto. Phụ nữ Úc ưa chuộng loại Flat trắng trong khi đó, những người đàn ông lại thích nhâm nhi một tách Espresso. Cappuccino cũng là một loại cà phê phổ biến trên những con phố và được ưa chuộng tại đây.

Thực trạng và xu thế phát triển của hệ thống phân phối nông sản an toàn của Việt Nam hiện nay. Kinh nghiệm của Thái Lan và bài học cho Việt Nam

Thực trạng và xu thế phát triển của hệ thống phân phối nông sản an toàn của Việt Nam hiện nay. Kinh nghiệm của Thái Lan và bài học cho Việt Nam

<center>Ảnh: Internet</center>” src=”https://lh3.googleusercontent.com/ZlKgQi5PPz0YZSWcH8BPb7Qr3oxRYL0_vKD3KgmsLb1KxHRcQTu80wOWgn3uYIKxZFze7n72cSg1AnzRj27T_H9mAdye3NUSTOtfpCN0x-vNpRrW6XX67wO3EWvTR5SGheM9MTE7″ width=”602″ height=”401″>Ảnh: Internet</td></tr><tr><td><strong>Phân phối thực phẩm nông nghiệp là một vấn đề cấp bách ở Việt Nam do hiện nay Việt Nam chưa có hệ thống chứng nhận rõ ràng và thông tin đẩy đủ về thực phẩm nông nghiệp an toàn ảnh hưởng đến niềm tin của khách hàng và tên thương hiệu của sản phẩm. Áp dụng lý thuyết Push and Pull của Bonney và cộng sự (1999), nghiên cứu phân tích rằng chính phủ Việt Nam đã tạo ra các chiến lược và chính sách để thiết lập một hệ thống phân phối thực phẩm nông nghiệp hiện đại với thông tin về nguồn gốc thực phẩm nông nghiệp và tiêu chí an toàn và các doanh nghiệp phân phối đã đáp ứng yêu cầu của thị trường toàn cầu hóa và hiện đại. Tuy nhiên, vẫn còn có những trở ngại trong việc phát triển đầy đủ hệ thống phân phối nông sản thực phẩm ở Việt Nam bao gồm: thiếu hệ thống chứng nhận để nâng cao lòng tin của khách hàng, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên để đảm bảo nguồn cung bền vững và nhu cầu thị trường không dự đoán . Nghiên cứu các chính sách và sự phát triển của toàn bộ thị trường nông sản thực phẩm của Thái Lan có ảnh hưởng đến hệ thống phân phối có ảnh hưởng đến quốc gia, nghiên cứu rút ra các bài học chính sách cho Việt Nam.</strong></td></tr></tbody></table></figure>



<figure class=
1. Đặt vấn đề1.1. Lý do thực hiện nghiên cứuTrong những năm gần đây, Việt Nam ngày càng đối diện với thách thức nghiêm trọng về thực phẩm không an toàn, đe dọa đến sức khỏe và tính mạng của người tiêu dùng và hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm còn yếu, chưa có được niềm tin của người tiêu dùng và khai thác được tối đa tiềm năng nông nghiệp của Việt Nam. Thực phẩm sạch, an toàn đang trở thành nhu cầu cấp thiết của người tiêu dùng. Trong nhiều năm qua, Việt Nam vẫn chưa lựa chọn được những giải pháp hiệu quả để phát triển kênh phân phối thực phẩm an toàn thực sự đến tay người tiêu dùng.Mặc dù Việt Nam đã có Luật An toàn thực phẩm từ năm 2010 và bắt đầu thực hiện từ tháng 7/2011, tuy nhiên cho đến nay hệ thống thể chế và chính sách về an toàn thực phẩm vẫn đang hoàn thiện và còn nhiều bất cập. Chính phủ, các bộ, ngành có liên quan đã tăng cường các biện pháp mạnh nhằm tạo dựng một nền sản xuất sạch, kiểm soát tốt chất lượng an toàn thực phẩm. Trên thực tế, việc xây dựng một thị trường nông sản sạch còn nhiều khó khăn. Người tiêu dùng chỉ có thể nhận biết được thực phẩm không an toàn phần lớn là nhờ vào các cơ quan thanh tra, điều tra của báo chí, hoặc thông tin của một số cá nhân, và cũng không thể nhận biết được thực phẩm bẩn ở mức độ nào so với thực phẩm an toàn. Bên cạnh đó, hiện nay Việt Nam chưa có một chiến lược tổng thể và dài hạn xây dựng hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm hiệu quả, các hệ thống chứng chỉ có uy tín tầm cỡ quốc tế để thuyết phục người tiêu dùng. Kết nối của kênh phân phối với các đơn vị sản xuất còn bị động, ảnh hưởng bởi thời tiết mùa vụ. Vì vậy, việc đưa ra những giải pháp đột phá nhằm phát triển kênh phân phối thực phẩm nông sản an toàn cho người tiêu dùng là yêu cầu cấp thiết.1.2. Xác định vấn đề nghiên cứuNghiên cứu hiện trạng phân phối nông sản – thực phẩm của Việt Nam và các kinh nghiệm của Thái Lan, nhóm tác giả xác định câu hỏi nghiên cứu như sau:(i) Hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm của Việt Nam đang có những điểm bất cập nào?(ii) Kinh nghiệm của Thái Lan có thể áp dụng cho bối cảnh của Việt Nam như thế nào?2. Tổng quan nghiên cứu2.1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyếtTrên thế giới có nhiều nghiên cứu về hệ thống sản xuất – phân phối – tiêu thụ nông sản – thực phẩm dưới góc độ quản lý. Salin (1998) cho rằng phân phối nông sản – thực phẩm là hệ thống phức tạp do tác động của vòng đời sản phẩm ngắn, thời tiết ảnh hưởng đến nguồn cung sản phẩm và an toàn thực phẩm và chất lượng thực phẩm tác động lớn đến thị trường tiêu dùng (tr.329-33). Theo T. Heller (2002), khi toàn cầu hóa gia tăng, với thông tin và lựa chọn về sản phẩm ngày càng phong phú, thị trường tiêu dùng đòi hỏi hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm ngày càng cao về chất lượng, độ tươi ngon và phong phú. Nhu cầu mua nông sản – thực phẩm tại các siêu thị có công bố chất lượng sản phẩm chi tiết hơn ngày càng lớn. Burch, D.Lawrence, G.(2007) cho rằng quyền lực trong hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm đã từ từ chuyển từ cơ sở sản xuất, thương hiệu thực phẩm sang các siêu thị bán lẻ lớn. Các tiêu chuẩn và công bố chất lượng dần dần do các siêu thị bán lẻ này áp đặt và đặt hàng hơn là các nhà sản xuất tự kiểm soát sản phẩm của mình. Hiện tượng này đã xảy ra ở nhiều nơi như châu Âu, Bắc Mỹ và Ấn Độ. Các nghiên cứu này đã chỉ ra xu hướng phát triển của hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm, tuy nhiên rất ít nghiên cứu xử lý các khó khăn của một thị trường đang phát triển như Việt Nam cũng như cách để tháo gỡ các vướng mắc của hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm hiện nay trong bối cảnh Việt Nam có nhiều tiềm lực về nông nghiệp nhưng chưa có nội lực nguồn nhân lực, khoa học kỹ thuật và chính sách dài hạn cho khu vực này.Ở Việt Nam, các lý luận về sức ảnh hưởng của các mắt xích trong hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm chưa được nghiên cứu nhiều. Đặc biệt là đến nay chưa có một hệ thống pháp lý chính thức và thống nhất về nông sản sạch, an toàn hay hữu cơ để phân loại chất lượng nông sản – thực phẩm trên thị trường khiến cho hệ thống phân phối chịu tác động tiêu cực như: thiếu cơ sở cho niềm tin của người tiêu dùng, giá sản phẩm chưa tương xứng với chất lượng sản phẩm và khó xây dựng chiến lược tiếp thị nông sản – thực phẩm. Theo Phạm Hải Vũ – Đào Thế Anh (2016), Việt Nam còn thiếu cơ sở khoa học so với chuẩn thế giới. Theo nghiên cứu này:”Các kênh phân phối ngắn (Người sản xuất – Người tiêu dùng và Người sản xuất – Người bán lẻ – Người tiêu dùng) thường diễn ra ngay tại vùng sản xuất hoặc tại các thị trường gần vùng sản xuất. Những người sản xuất này có quy mô sản xuất nhỏ, có điều kiện về lao động nên vừa tổ chức được sản xuất, vừa tổ chức tiêu thụ được sản phẩm.” (tr.26-27)Theo Võ Thị Ngọc Thúy (2016), Các nghiên cứu về nhãn mác, đặc biệt là nhãn mác an toàn xuất hiện ở Mỹ và châu Âu từ cuối thế kỷ XIX. Tuy nhiên, ở Việt Nam chủ đề này vẫn chủ yếu được nhắc đến trong các bài xã luận, chưa có nghiên cứu hàn lâm (tr.3). Hiện nay tại Việt Nam, có rất nhiều quan điểm và công bố khác nhau về nông sản sạch như rau an toàn, VIETGAP và nông sản hữu cơ. Tuy nhiên, sự minh bạch giữa các khái niệm chưa thuyết phục được thị trường tiêu dùng. Ví dụ về tiêu chuẩn hữu cơ, theo Ngô Minh Hải và Vũ Quỳnh Hoa (2016), hiện nay Việt Nam thiếu hụt nguồn thông tin về các sản phẩm hữu cơ hay chưa có một hệ thống đảm bảo chất lượng hoạt động hiệu quả (tr.1467).Gần đây, cụm từ “nông sản sạch” được hiểu rõ hơn khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ra Quyết định số 738/QĐ-BNN-KHCN ngày 14/3/2017 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về “Tiêu chí xác định chương trình, dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, danh mục công nghệ cao ứng dụng trong nông nghiệp”, qua đó khái niệm về nông sản sạch, an toàn có thể được hiểu là nông sản an toàn được sản xuất tại các cơ sở sản xuất kinh doanh đủ điều kiện an toàn thực phẩm; ứng dụng công nghệ cao hoặc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt.Nhóm tác giả nghiên cứu sử dụng khái niệm hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm an toàn theo khái niệm nông sản an toàn được công bố của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế và Bộ Công thương là nông sản được sản xuất theo một quy trình nghiêm ngặt về sản xuất an toàn thực phẩm được các cơ quan liên quan cấp phép và quản lý, giám sát, ứng dụng các biện pháp công nghệ cao, đảm bảo an toàn sức khỏe cho người tiêu dùng và không gây hại cho môi trường. Trong đó, các nhóm tiêu chuẩn cụ thể như Hữu cơ, Không biến đổi gen được hiểu là tối thiểu đáp ứng tiêu chuẩn an toàn sau đó đạt tới các mức chất lượng cao hơn, đáp ứng các nhóm người tiêu dùng có nhu cầu cao. Phân phối nông sản an toàn là kênh trung gian kết nối người sản xuất nông sản an toàn tới tay người tiêu dùng.2.2. Khung lý thuyết sử dụng trong bài viếtNhóm tác giả áp dụng lý thuyết Đẩy và Kéo trong chuỗi cung cứng sản phẩm (Push and Pull của Bonney và cộng sự (1999)) để phân tích các động lực thúc “đẩy” quá trình phát triển của hệ thống phân phối thực phẩm sạch và lực “kéo” từ đòi hỏi của thị trường hiện đại. Theo Bonney và cộng sự, với một chuỗi cung ứng sử dụng chiến lược đẩy, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ được đẩy từ phía nhà sản xuất tới nhà bán lẻ qua các kênh phân phối. Nhà sản xuất sẽ thiết kế sản lượng ở mức hợp lí dựa trên số lượng đơn đặt hàng trước đây từ các nhà bán lẻ. Chính vì thế nên sẽ tốn rất nhiều thời gian khi phải điều chỉnh lại nếu có sự thay đổi từ nhu cầu của thị trường. Điều này có thể dẫn đến việc quá nhiều hàng tồn kho dư thừa, gây ra sự tắc nghẽn hoặc chậm trễ, chất lượng dịch vụ xuống dốc và sản phẩm không bắt kịp thị trường. Còn khi sử dụng chiến lược kéo với chuỗi cung ứng, việc thu mua, sản xuất và phân phối dựa theo nhu cầu thực tế thay vì phải dự đoán. Trong hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm Việt Nam hiện nay, nhóm tác giả tích hợp yếu tố chính sách là lực Đẩy với các dự báo về việc thúc đẩy sản phẩm nông sản – thực phẩm an toàn và các yêu cầu của thị trường hiện nay là lực “Kéo”. Nhóm nghiên cứu giả định khi lực “Đẩy” và “Kéo” xảy ra ở từng doanh nghiệp/ đơn vị kinh doanh đồng thời thì cần quan sát hai lực này ở tầm vĩ mô hơn – khu vực phân phối nông sản – thực phẩm vì tác động của các chính sách về tiêu chuẩn an toàn và đòi hỏi của thị trường tiêu dùng có hiệu ứng vĩ mô.2.3. Phương pháp nghiên cứuNhóm tác giả sử dụng các phương pháp sau:(i) Tổng hợp và phân tích tài liệu về chính sách hiện nay đối với hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm an toàn của Việt Nam; các số liệu nghiên cứu về hiệu quả của hệ thống phân phối này phân tích tác động của chính sách và yêu cầu của thị trường lên hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm Việt Nam theo lý thuyết Đẩy và Kéo của Bonney và Cộng sự (1999)(ii) Lựa chọn nghiên cứu trường hợp một số doanh nghiệp phân phối nông sản – thực phẩm của Việt Nam theo tiêu chí chọn mẫu đại diện. Mẫu đại diện cho đơn vị phân phối nông sản – thực phẩm có các đặc điểm:- Có phân phối tỷ lệ lớn trên 50% nông sản – thực phẩm của Việt Nam- Được công bố có đáp ứng các tiêu chuẩn về nông sản – thực phẩm an toàn của Việt Nam- Có hợp đồng với các đơn vị cung cấp nông sản – thực phẩm của Việt Nam- Có tìm đơn vị công bố hoặc tự công bố riêng các tiêu chuẩn theo xu hướng thị trường- Có năng lực kinh doanh và đã phân phối nông sản thực phẩm trên năm (05) năm: thời gian này đủ chứng minh đơn vị phân phối đáp ứng được các yêu cầu của thị trường để tồn tại(iii) Nghiên cứu kinh nghiệm chính sách và hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm Thái Lan(iv) So sánh bối cảnh vận dụng chính sách của Thái Lan và Việt Nam để rút ra bài học kinh nghiệm3. Kết quả nghiên cứu3.1. Thực trạng hệ thống phân phối nông sản sạch tại thị trường Việt Nam3.1.1. Các hệ thống chính sách liên quanNhóm tác giả nghiên cứu các chính sách tác động tới hệ thống phân phối này là một nhóm các lực “Đẩy” (push) của thị trường nông sản – thực phẩm.Sơ đồ 1: Lực đẩy từ các chính sách tới hệ thống phân phối nông sản – thực phẩmNguồn: Nhóm tác giả phân tích dựa trên lý thuyết Đẩy và Kéo của Bonney và cộng sự (1999)Cụ thể các chính sách tác động tới hệ thống phân phối này như sau:(i) Ban Chỉ đạo liên ngành về Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững do Thủ tướng Chính phủ thành lập năm 2015. Ban thực hiện chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ trong việc tổ chức, chỉ đạo, điều hành về tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2015 – 2020. Trong đó, việc làm cấp thiết là phải có một hệ thống phân phối nông sản hợp lý từ đồng ruộng đến các đại lý phân phối, hạn chế tối đa các trung gian không cần thiết. Các cơ sở kinh doanh thực phẩm sạch phải đảm bảo đủ các điều kiện về địa điểm, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có hợp đồng cung ứng với cơ sở sản xuất đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện; sản phẩm sạch phải có bao bì, nhãn mác và niêm phong theo quy định.Lực “Đẩy” này đã tác động tới việc các hệ thống phân phối ưu tiên các sản phẩm đạt quy chuẩn và làm suy yếu hệ thống phân phối truyền thống tại đô thị. Từ trước, hình thức phân phối chủ yếu vẫn là truyền thống, có nghĩa là người tiêu dùng vẫn có thói quen mua hàng nông sản tại các chợ và từ người bán rong. Các chợ được phân bố tại khắp các cụm dân cư sinh sống. Chợ có thể được quy hoạch hoặc tự phát. Trên thực tế, hình thức bán rong vẫn tồn tại mạnh tại Việt Nam bởi sự thuận tiện, song xu hướng này sẽ ngày càng giảm đi vì người tiêu dùng muốn tìm đến những kênh phân phối có uy tín để mua được những sản phẩm sạch, an toàn.(ii) Đề án “Xây dựng và phát triển chuỗi cung ứng thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn” đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyết định số 3073/QĐ-BNN-QLCL ngày 27/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Nắm bắt được nhu cầu người tiêu dùng, hiện nay kênh phân phối hàng nông sản an toàn của Việt Nam đã phát triển khá mạnh cả về chất lượng và quy mô, cùng với sự ra đời hàng loạt các cơ sở phân phối hiện đại như trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng phân phối nông sản an toàn và các chương trình kết nối cung cầu nông sản sạch do Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp tổ chức, bước đầu thỏa mãn nhu cầu của người dân, làm thay đổi tư duy tiêu dùng của đa số người dân. Các địa phương trong cả nước cũng đã đẩy mạnh triển khai.Lực “Đẩy” này khiến các đơn vị phân phối phát triển thành hệ thống hiện đại, gây dựng nhãn hiệu, tiếp thị người tiêu dùng thay đổi thói quen mua sắm thực phẩm. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến nay, cả nước đã có 63/63 tỉnh, thành phố xây dựng thành công 746 mô hình điểm chuỗi cung ứng nông sản an toàn với sản phẩm chủ yếu là rau, quả, chè, thịt trứng, gạo và thủy sản các loại…, trong đó có 382 chuỗi được giám sát, xác nhận sản phẩm được kiểm soát an toàn thực phẩm theo chuỗi. Theo dự báo đến năm 2020, nông sản an toàn phân phối tại các kênh phân phối hiện đại có thể chiếm trên 40% thị phần trong nước và xu thế này sẽ ngày càng tăng lên trong tương lai bởi yêu cầu ngày càng khắt khe về an toàn thực phẩm cũng như quản lý phân phối nông sản an toàn ngày càng chặt để đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng.3.1.2. Hiện trạng các hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm Việt Nam   Sơ đồ 2: Tổ chức kênh phân phối hiện nay tại Việt NamNguồn: Nhóm tác giả nghiên cứu, tổng hợpTrong đó:+ Kênh gián tiếp: – Kênh một cấp: Nhà sản xuất bán hàng gián tiếp cho người tiêu dùng qua một trung gian đó là nhà bán lẻ.- Kênh nhiều cấp: Gồm có kênh 2 cấp, kênh 3 cấp…+ Kênh trực tiếp:   Người sản xuất bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng qua các cửa hàng của mình, qua bưu điện hoặc bán hàng lưu động, bán tại các địa điểm khách hàng, bán hàng theo hình thức thương mại điện tử.Chi phí của kênh phân phối được biểu hiện bằng số lượng trung gian ở mỗi cấp phân phối. Như vậy, nếu càng giảm bớt các chi phí kênh trung gian thì hệ thống phân phối sản phẩm càng có hiệu quả cao vì khi đó giá sản phẩm không bị đẩy lên quá nhiều so với giá trị của nó. Tuy vậy, kênh phân phối hiệu quả hiện tại vẫn chiếm sản lượng tiêu thụ rất thấp.Sự lớn mạnh của hệ thống các siêu thị không chỉ do các lực “Đẩy” các chính sách, mà còn có lực Kéo của yêu cầu thị trường, bao gồm:(i) Yêu cầu về giá cạnh tranh: các hệ thống này này giảm bớt được các khâu trung gian, từ đó giảm về giá thành cho người tiêu dùng(ii) Yêu cầu về chất lượng minh bạch: Hoạt động của các hệ thống phân phối này đều đảm bảo tính minh bạch bởi tất cả các hàng hóa bán ra đều có thể thực hiện trên hóa đơn, giá bán được niêm yết rõ ràng, ngày sản xuất và hạn sử dụng được niêm yết trực tiếp trên bao bì sản phẩm đảm bảo tính minh bạch trên thị trường hàng hóa.(iii) Yêu cầu về nhu cầu mua sắm với dịch vụ hiện đại: Các hệ thống phân phối này đều có quy trình công nghệ hiện đại về quản lý chất lượng và vệ sinh, các doanh nghiệp bán buôn hiện đại giúp giảm tỷ lệ hao hụt hàng hóa và do đó nâng cao hiệu quả kinh doanh cho các kênh bán lẻ, cung cách phục vụ khách hàng tốt và khách hàng có thể mua cùng một lúc nhiều loại sản phẩm ở cùng một địa điểm.Kết quả của các lực Đẩy và Kéo, hệ thống siêu thị có công bố chất lượng ngày càng phát triển. Theo thống kê của Liên minh nông nghiệp Việt Nam, tỷ lệ người dân đi chợ truyền thống, chợ cóc, chợ tạm đã giảm tới 35,5% so với 5 năm trước đây. Người tiêu dùng ngày càng tìm đến các kênh phân phối nông sản an toàn để đảm bảo sức khỏe cho bản thân và gia đình.Tổng hợp tác động của lực “Kéo” có thể tóm tắt trong sơ đồ sau:  Sơ đồ 3: Lực “Kéo” của thị trường tới hệ thống phân phối nông sản, thực phẩmNguồn: Nhóm tác giả phân tích dựa trên lý thuyết Đẩy và Kéo của Bonney và cộng sự (1999)Dưới tác động của các lực Kéo và Đẩy đã phân tích như trên, Nhóm tác giả liệt kê các trường hợp (case study viết tắt cs) sau ở Việt Nam:[cs1] Hệ thống siêu thị của Liên hiệp Hợp tác xã tiêu thụ nông sản an toàn Việt Nam (UCA mart) thành lập năm 2016 với mục đích liên kết các Hợp tác xã (HTX) sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản an toàn trên toàn quốc. UCA là nơi phân phối các sản phẩm an toàn, có truy xuất nguồn gốc như rau, củ, quả và thực phẩm như thịt gà, thịt lợn, thịt bò, cá… của các hợp tác xã uy tín trên toàn quốc. 100% hợp tác xã tham gia vào chuỗi siêu thị này được cơ quan chức năng kiểm tra, đánh giá chất lượng thường xuyên, liên tục, nông sản được gắn tem truy xuất nguồn gốc điện tử. Hệ thống chịu tác động của lực Đẩy chính sách lúc thành lập nhưng sau đó đã chịu thêm tác động lực Kéo của yêu cầu thị trường khi đa dạng hóa thực phẩm.[cs2] Hệ thống siêu thị VinMart & chuỗi cửa hàng VinMart+: Đây là hệ thống siêu thị đã được bình chọn vào Top 2 nhà bán lẻ được người tiêu dùng nghĩ đến nhiều nhất và Top 10 nhà bán lẻ uy tín nhất (theo thống kê của Vietnam Report). VinMart & Vinmart+ cũng góp phần đưa VinCommerce lên vị trí thứ 19 trong top 50 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam theo bảng xếp hạng do Brand Finance công bố trong 2 năm liên tiếp 2016, 2017. Tính đến hết ngày 31/12/2017, hệ thống bán lẻ có quy mô 65 siêu thị VinMart và hơn 1.000 cửa hàng VinMart+ tại 26 tỉnh, thành phố trên cả nước và trở thành chuỗi bán lẻ quy mô nhất Việt Nam.VinMart & VinMart+ cũng là kênh phân phối độc quyền các sản phẩm nông sản an toàn VinEco sản xuất theo công nghệ Israel hiện đại hàng đầu thế giới cung cấp đa dạng sản phẩm nông sản an toàn như rau, củ, quả, nấm tươi cao cấp, thịt và hải sản. Đây cũng là chuỗi cửa hàng tiện lợi, phân bổ giữa các khu dân cư đông đúc, mang đến sự tiện lợi cho người tiêu dùng trên khắp Việt Nam. Doanh nghiệp phân phối nông sản – thực phẩm này chịu tác động lực Kéo cao, dựa trên đòi hỏi của thị trường, bắt kịp xu thế về tiêu dùng sản phẩm đa dạng, giá thành tốt, công bố rõ nguồn gốc.[cs3] Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) VinaGAP Việt Nam: Được thành lập từ năm 2010, với thương hiệu là Bác Tôm được xem là đi tiên phong trong lĩnh vực rau và thực phẩm sạch ở Hà Nội, đến nay hệ thống cửa hàng đã phát triển 23 chuỗi cửa hàng trên khắp Hà Nội. Công ty chuyên phân phối các mặt hàng nông sản – thực phẩm sạch và là địa chỉ uy tín lâu năm đối với người tiêu dùng Hà Nội. Doanh nghiệp phân phối nông sản – thực phẩm này chịu tác động lực Kéo và hướng tới nhóm tiêu dùng có nhu cầu truy xuất nguồn gốc cao hơn, yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng cao hơn. Đây là mẫu tiêu biểu cho nhiều doanh nghiệp phát triển phân phối sản phẩm nông sản – thực phẩm theo xu hướng tiêu dùng nông sản – thực phẩm cao cấp. Tuy nhiên ở các doanh nghiệp này, các tiêu chuẩn “hữu cơ”, “không biến đổi gen” mới chịu tác động của lực “Kéo” thị trường, thiếu lực “Đẩy” từ hệ thống chứng nhận, chính sách ưu đãi của Nhà nước nên minh bạch thông tin đối với người tiêu dùng còn chưa tối ưu.[cs4] Công ty TNHH một thành viên Phân phối Saigon Co.op (SCD): Là hệ thống bán lẻ uy tín đối với người tiêu dùng thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và trên toàn quốc với chuỗi siêu thị, cửa hàng Co.opmart, Co.opXtra, Co.opFood. Tính đến 12/2017, hệ thống Co.op mart có 92 siêu thị và gần 200 cửa hàng Co.opFood trên toàn quốc. Các điểm bán hàng của hệ thống Co.op đều có chứng nhận an toàn thực phẩm và đạt tiêu chuẩn VietGAP, VietGAP nhãn xanh. Để có thể cạnh tranh với thị trường bán lẻ trong nước và nước ngoài tại Việt Nam, Saigon Co.op có chiến lược phát triển mới trong đó tập trung vào ba lĩnh vực chính là: Phát triển mạng lưới, hàng hóa và logistics, xây dựng lộ trình chuyển đổi phù hợp. Cụ thể năm 2018, Saigon Co.op sẽ xây dựng mô hình kinh doanh mới trong đó có một Co.opmart phân khúc cao (Finelife), kết nối đa phương tiện với các hình thức mua sắm khác. Đẩy mạnh khai thác kinh doanh các mặt hàng hữu cơ… Tiếp tục hợp tác chặt chẽ với các nhà sản xuất uy tín để phân phối hàng hóa, thực phẩm chất lượng cao đạt chuẩn an toàn thực phẩm. Đây là một đại diện cho doanh nghiệp chịu tác động “Kéo” của thị trường qua các giai đoạn phát triển khác nhau, từ các tiêu chuẩn tuân theo lực “Đẩy” chính sách về nhãn VietGAP đến đi sâu vào yêu cầu cao hơn của thị trường và có chiến lược gây dựng thương hiệu riêng, tạo ra lực Đẩy mới, đáp ứng lực Kéo của thị trường.[cs5] Công ty Thực phẩm sạch Biggreen Việt Nam: Được thành lập từ năm 2010,công ty hoạt động trong lĩnh vực bán buôn, bán lẻ rau, quả thực phẩm sạch và đặc sản vùng miền. Đến nay Biggreen Việt Nam đã xây dựng thành công chuỗi liên kết từ sản xuất đến cung ứng rau, quả sạch, trở thành địa chỉ tin cậy của khách hàng ở thị trường Hà Nội. Biggreen Việt Nam đã xây dựng được mối liên kết với nhiều hợp tác xã, đơn vị sản xuất rau an toàn tại nhiều vùng rau lớn trên cả nước như: Mộc Châu (tỉnh Sơn La), Bắc Hà (tỉnh Lào Cai), Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng) và Đông Anh (Thành phố Hà Nội). Công ty cũng đã phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội khai trương Trung tâm Tư vấn, giới thiệu và bán nông sản thực phẩm an toàn. Các sản phẩm được trưng bày và giới thiệu tại trung tâm đều có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP hay hữu cơ, có sự liên kết tổ chức sản xuất theo chuỗi và được kiểm soát chặt chẽ trong tất cả các khâu. Đặc biệt, tất cả các sản phẩm được bày bán đều có dán tem QR Code trên bao bì để khách hàng có thể dễ dàng kiểm tra thông tin và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Đây là mẫu kết hợp lực Đẩy chính sách và lực Kéo thị trường liên tục, với mỗi lực Kéo yêu cầu của thị trường, lại có sự phối hợp lực Đẩychính sách kịp thời hỗ trợ.Với các trường hợp nghiên cứu như trên, mặc dù đã có vận dụng lực Đẩy và Kéo của chính sách và yêu cầu thị trường, các doanh nghiệp phân phối nông sản an toàn của Việt Nam chưa phát huy được tiềm năng, cùng với việc xuất hiện ngày càng nhiều tập đoàn phân phối lớn của nước ngoài với tiềm lực mạnh và tính chuyên nghiệp cao, đã làm cho một số các doanh nghiệp phân phối Việt Nam bán lại cho các tập đoàn lớn này. Cụ thể có thể thấy:(i) Đáp ứng của lực Đẩy chính sách về hệ thống chứng nhận đáp ứng nhu cầu lực Kéo của thị trường còn yếu, đến nay chỉ có chứng nhận an toàn ở mức tối thiểu, chưa phong phú, đa dạng. Hệ thống kiểm định còn yếu kém dẫn tới niềm tin suy giảm. Nhiều hệ thống phân phối uy tín muốn đưa các mặt hàng nông sản sạch vào hệ thống bán hàng của mình với giá cả hợp lý, cạnh tranh song quy mô sản xuất các mặt hàng này hiện nay còn nhỏ lẻ, manh mún, nhiều loại nông sản chưa đáp ứng được yêu cầu về thủ tục giấy tờ đăng ký, kiểm định chất lượng, phương thức thanh toán. Một số các cơ sở sản xuất hàng nông sản mặc dù có giấy chứng nhận Vietgap hoặc cơ sở sản xuất an toàn nhưng hệ thống kiểm soát chất lượng của kênh phân phối vẫn phát hiện có tồn dư hóa chất, kháng sinh, vi khuẩn… trong thực phẩm. Chưa có chế tài đủ mạnh để răn đe các cửa hàng phân phối nông sản không đảm bảo an toàn. Lực lượng cán bộ thanh kiểm tra các cơ sở phân phối hàng nông sản còn mỏng về số lượng và kém trình độ nên nhiều vụ việc vi phạm kinh doanh an toàn thực phẩm chưa được phát hiện.(ii) Do thiếu phân tích lực Kéo cụ thể về nhu cầu, chủng loại, thời điểm, các doanh nghiệp phân phối nông sản còn bị động vì phải phụ thuộc vào mùa vụ, thời tiết, chất lượng của sản phẩm, biến động giá cả của thị trường trong và ngoài nước.(iii) Do các phân tích về thị trường còn yếu, hợp đồng số lượng lớn, ổn định chưa nhiều: Một số doanh nghiệp phân phối sản phẩm nông sản an toàn vào siêu thị còn gặp nhiều khó khăn: thời gian chờ nhập hàng vào siêu thị, chi phí vận chuyển cao do mỗi lần siêu thị nhập hàng vào với số lượng ít, việc chiết khấu cho siêu thị cao (từ 23-25% giá sản phẩm), thời gian thanh toán tiền hàng của siêu thị còn chậm so với thực tế ghi trong hợp đồng khiến các doanh nghiệp này gặp khó khăn do không có kinh phí tái đầu tư.3.2. Kinh nghiệm phát triển hệ thống phân phối nông sản sạch của Thái Lan3.2.1. Hệ thống chính sách phát triển thị trường bền vững tác động thuận lợi tới phân phối nông sản – thực phẩmTheo Ngân hàng thế giới (World Bank) (2016), nông nghiệp chiếm 12% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Thái Lan và sử dụng 32% lao động toàn quốc. Mặc dù khu vực công nghiệp Thái Lan chiếm 40% GDP song khu vực này có mối quan hệ chặt chẽ với khu vực nông nghiệp do ngành công nghiệp chế biến thực phẩm chiếm tỷ lệ cao trong khu vực công nghiệp. Khu vực dịch vụ chiếm 45% GDP, trong đó các dịch vụ vận chuyển và giao nhận thực phẩm giữa các thành phố, bán buôn và bán lẻ thực phẩm chiếm tỷ trọng cao. Năm 2015, ngành bán lẻ Thái Lan đạt 84,31 tỷ USD. Bán lẻ được chia thành khu vực thực phẩm và phi thực phẩm, trong đó bán lẻ thực phẩm chiếm 62% tổng mức bán lẻ.Để mạng lưới phân phối thực phẩm phát triển, Thái Lan đã có các chính sách đồng bộ hỗ trợ các mắt xích quan trọng trong mạng lưới phân phối như: Khuyến khích phát triển các tập đoàn thu mua nông sản và phân phối lớn có quy mô quốc gia; đảm bảo đầu ra cho các hộ nông dân; nâng cao uy tín các đơn vị kinh doanh bán lẻ, tạo niềm tin cho người tiêu dùng trong nước và khách du lịch; quản lý, chứng nhận và giám sát chất lượng, tiếp thị thương hiệu thực phẩm. Cụ thể, mạng lưới phân phối thực phẩm của Thái Lan được hỗ trợ bởi các yếu tố sau:(i) Hệ thống chứng nhận chất lượng rõ ràng, được người tiêu dùng tin cậy: Thái Lan là một trong các quốc gia Đông Nam Á đi đầu trong việc tạo ra các chứng nhận chất lượng cụ thể, phù hợp với yêu cầu quốc tế và toàn cầu hóa. Chứng nhận nông sản hữu cơ của Thái Lan tạo ra các sản phẩm có chứng nhận rõ ràng về chất lượng, giúp khẳng định thương hiệu nông sản. Cơ quan cấp chứng nhận hữu cơ nổi bật của Thái Lan là Actorganic-cert (ACT). ACT tuân theo các tiêu chuẩn và quy định của các cơ quan chứng nhận quốc tế như: tiêu chuẩn châu Âu số 1235/2008 (điều 10) có từ năm 2011, Tiêu chuẩn hữu cơ Canada của cơ quan giám sát thực phẩm Canada năm 2009. Hệ thống chứng nhận ACT có tính linh động cao khi có các hồ sơ khác nhau tùy vào sản phẩm xin cấp chứng nhận để bán ở thị trường nào giúp tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp.Theo Hiệp hội Thương mại nông sản hữu cơ Thái Lan (2011), nông nghiệp hữu cơ đã sớm được xếp vào chương trình quốc gia trọng yếu nhằm thúc đẩy thực phẩm an toàn và xuất khẩu thực phẩm của Thái Lan. Từ những năm 1980s, các hộ nông dân, tổ chức phi chính phủ đã thành lập Mạng lưới nông nghiệp thay thế (alternative Agriculture Network – AAN) nhằm củng cố các hoạt động nông nghiệp bền vững của Thái Lan. Trong gần 40 năm, các sản phẩm hữu cơ ngày càng đa dạng và được người tiêu dùng đón nhận bởi chất lượng cũng như sự an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng. Sự hỗ trợ của chính phủ Thái Lan đối với các tổ chức và hiệp hội chứng nhận chất lượng đã bắt kịp xu hướng tiêu dùng thực phẩm sạch, hạn chế hóa chất của người tiêu dùng Thái Lan và quốc tế.(ii) Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển nông sản và tiêu thụ nông sản: Theo Jennifer Phang (2011), Thái Lan có các cơ quan nghiên cứu về gen và kỹ thuật sản xuất thực phẩm như Viện Thực phẩm quốc gia (The National Food Institute (NFI)), Vụ Dịch vụ kỹ thuật thực hiện các hệ thống an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn Thực hành sản xuất tốt (tiếng Anh là Good Manufacturing Practices, viết tắt là GMP) và Hệ thống phân tích mối nguy hại trong thực phẩm (tiếng Anh là Hazard Analysis and Critical Control Points, viết tắt là HACCP), Cơ quan phát triển nghiên cứu nông nghiệp (ARDA) phối hợp với NFI để phát triển thực phẩm chế biến và nguồn nhân lực cho ngành nông sản – thực phẩm.(iii) Chiến lược của chính phủ Thái Lan về hỗ trợ tiêu thụ nông sản và thực phẩm ổn định: Thái Lan có chiến lược nông sản quốc tế mang tên “Thái Lan – Bếp ăn của Thế giới” cho giai đoạn 2012-2016 nhằm nâng cao chất lượng thực phẩm của Thái Lan bao gồm: nâng cao khoa học công nghệ trong nông nghiệp, nâng cao kiến thức cho nông dân, tạo ra các ngành công nghiệp chế biến nông sản có giá trị gia tăng cao. Theo Tổ chức y tế Thế giới (2015), đến nay có hơn 85.000 cửa hàng thực phẩm đường phố và 50.000 nhà hàng tham gia dự án Thực phẩm sạch, hương vị ngon, được Bộ Sức khỏe cộng đồng phối hợp Tổng cục Du lịch Thái Lan và Bộ Nội vụ khởi động từ năm 1989. Chiến lược nhằm đảm bảo thực phẩm vệ sinh an toàn phục vụ du lịch và sự chủ động của các cơ quan quản lý thực phẩm địa phương. Trong chiến lược tiếp thị nông sản và thực phẩm của Thái Lan, phối hợp tiếp thị nông sản và du lịch là một nội dung được chú trọng: Tổng cục du lịch Thái Lan sử dụng hình ảnh thực phẩm Thái Lan như một sản phẩm du lịch. Chiến lược của Tổng cục là khiến người Thái Lan và khách du lịch cùng biết đến và yêu thích thực phẩm Thái, đặc biệt các thực phẩm chế biến từ nông sản địa phương. Mục tiêu của Chiến lược không chỉ là tăng thu cho ngành du lịch thông qua khách du lịch thưởng thức thực phẩm Thái mà còn nâng cao giá trị của thực phẩm Thái, gây dựng hình ảnh quốc gia. Chiến lược toàn diện Tổng cục du lịch 2018 đảm bảo lượt khách du lịch cao trong bối cảnh cạnh tranh nhằm tạo nguồn tiêu thụ cho sản phẩm nông nghiệp và phối hợp đảm bảo chất lượng nông sản, thực phẩm để khách du lịch quay trở lại.(iv) Chiến lược duy trì và nâng cao chất lượng chợ truyền thống với các doanh nghiệp siêu nhỏ bán hàng song song với chuỗi siêu thị hiện đại: Mặc dù xu hướng người tiêu dùng mua sắm tại các siêu thị tăng nhanh chóng trong thập kỷ vừa qua, Thái Lan không bỏ mặc các khu chợ truyền thống mà áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng cho cả các khu chợ và biến chợ truyền thống thành các điểm thu hút khách du lịch, giới thiệu về nông sản, thực phẩm địa phương. Việc duy trì các tiểu thương hay các doanh nghiệp siêu nhỏ kinh doanh nông sản, thực phẩm cùng với các hệ thống siêu thị tạo ra trạng thái thị trường cân bằng, ổn định, cạnh tranh lành mạnh hơn. Ngoài ra, các hệ thống siêu thị lớn hầu như là các doanh nghiệp vốn nước ngoài thì các tiểu thương và doanh nghiệp siêu nhỏ tại các chợ truyền thống là doanh nghiệp Thái Lan, việc duy trì song song cả hai hệ thống giúp duy trì được nội lực cân bằng cho các doanh nghiệp thương mại kinh doanh nông sản của Thái Lan.(v) Thương mại điện tử phát triển: Theo báo cáo Kỹ thuật số Đông Nam Á năm 2017 của tổ chức We are Social, Thái Lan có 85% dân số sử dụng internet ít nhất một lần một ngày. Đây là cơ sở để tiếp thị thông tin nông sản, thực phẩm và phân phối bán buôn và bán lẻ cùng phát triển.(vi) Từ khi xây dựng ngành nông nghiệp hiện đại, năng suất cao, Thái Lan chú trọng và ưu tiên phát triển các tập đoàn lớn, có khả năng thu mua trên quy mô vùng hoặc quốc gia và đảm bảo đầu ra ổn định. Theo Diễn đàn lãnh đạo kinh doanh (2018), Kinh nghiệm của tập đoàn Central Group là làm việc chặt chẽ với các hộ nông dân để có kế hoạch thu mua nông sản thường xuyên theo giá thị trường phân phối trong hệ thống Big C. Kế hoạch thu mua giúp các hộ nông dân chú trọng nâng cao chất lượng nông sản hoặc xem xét khả năng mở rộng sản xuất ổn định.3.2.2. Tổng hợp mô hình hệ thống phân phối trong thị trường bền vững từ bài học kinh nghiệm của Thái Lan:Từ kinh nghiệm của Thái Lan trong việc tạo ra hệ thống chất lượng sản xuất, đảm bảo đầu ra, tiếp thị hình ảnh, phối hợp du lịch, chứng nhận chất lượng, có thể thấy được việc phân phối nông sản không đơn thuần là phân phối riêng lẻ. Khâu phân phối này cần đặt trong chiến lược tổng thể để phân phối được thông suốt và bền vững. Kinh nghiệm của Thái Lan cho thấy một lực “Đẩy” bao quát, đồng bộ trên mọi phương diện chiến lược dài hạn, chính sách phát triển, tận dụng tối đa mỗi lực “Kéo” của thị trường. Nhóm tác giả xây dựng mô hình phân phối nông sản an toàn như sau: Sơ đồ 4: Mô hình phân phối nông sản an toànNguồn: Nhóm tác giả nghiên cứu tổng hợp mô hình hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm của Thái LanPhân tích sơ đồ trên, nhóm tác giả thấy các yếu tố trên có quan hệ phụ thuộc như sau:- Nếu hệ thống chứng chỉ, kiểm định không nghiêm ngặt, không tạo niềm tin cho người tiêu dùng thì mắt xích tiếp thị sản phẩm không hiệu quả. Ngược lại, nếu chỉ đảm bảo chứng chỉ và chất lượng cho sản phẩm nhưng công tác tiếp thị không tốt thì người tiêu dùng không biết đến và không phân biệt được chất lượng sản phẩm.- Tổ chức đội ngũ tiếp thị sản phẩm rộng rãi giới thiệu những sản phẩm nông sản an toàn, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng thay vì những thực phẩm bẩn, không rõ nguồn gốc tràn lan trên thị trường, dần dần xây dựng uy tín thương hiệu của mình trên thị trường hàng nông sản một cách bền vững.- Có chiến lược thu hút khách du lịch và người tiêu dùng, đảm bảo được đầu ra ổn định mới có thể ký hợp đồng dài hạn với các doanh nghiệp bán lẻ.- Hợp đồng đầu ra bền vững mới có thể xây dựng hệ thống thu mua bền vững và ngược lại.- Hệ thống thu mua bền vững, có doanh số ổn định, đảm bảo chất lượng sản phẩm mới đủ điều kiện được cấp chứng chỉ.4. Một số khuyến nghị và giải pháp thúc đẩy phát triển kênh phân phối nông sản an toàn Việt NamTừ các phân tích hiện trạng và kinh nghiệm Thái Lan, nhóm tác giả đưa ra các khuyến nghị sau cho Việt Nam:- Xây dựng cơ quan nghiên cứu thông tin thị trường nông sản – thực phẩm cho doanh nghiệp;- Có chính sách khuyến khích hình thành các đơn vị chứng nhận độc lập phù hợp yêu cầu của thị trường;- Có chiến lược dài hạn xây dựng thị trường tiêu thị nông sản – thực phẩm trong nước bền vững, thu hút các nhóm tiêu dùng sản phẩm nhập khẩu và khách du lịch sang sử dụng nông sản – thực phẩm nội địa được chứng nhận chất lượng cao;- Thúc đẩy chính sách đầu tư hạ tầng, sử dụng đất và hỗ trợ về vốn, chính sách thuế nhằm phát triển các mô hình sản xuất quy mô lớn gắn với thị trường tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu công nghệ cao, tạo ra các hợp đồng lớn và dài hạn giúp ổn định các vùng sản xuất chất lượng cao;- Rà soát thường xuyên phối hợp giữa ba Bộ có liên quan, tránh chồng chéo trong quản lý và giám.Tăng cường vai trò, trách nhiệm của chính quyền các cấp trong công tác quản lý ATTP trên từng địa bàn và phối hợp tốt với các đoàn thể chính trị, xã hội, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp trong công tác tuyên truyền, vận động, giám sát để đảm bảo ATTP. Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả, tính răn đe trong công tác thanh, kiểm tra ATTP để đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng, người sản xuất và kinh doanh chân chính cũng như bảo vệ uy tín của nông sản Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.5. Kết luậnHệ thống phân phối nông sản – thực phẩm sạch là một đề tài quan trọng, nghiên cứu vấn đề thiết thực về thị trường nông sản – thực phẩm hiện nay của Việt Nam, với vị thế một quốc gia đang phát triển, có tiềm lực về nông nghiệp và thị trường rộng lớn đòi hỏi về chất lượng ngày càng cao. Nhóm tác giả dựa trên các phân tích, đánh giá về hiện trạng hệ thống phân phối nông sản an toàn của Việt Nam và bài học kinh nghiệm của Thái Lan, từ đó rút ra được các luận điểm nghiên cứu quan trọng: Một là, hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm sạch, an toàn của Việt Nam còn manh mún, nhỏ lẻ, chủ yếu quy mô hộ gia đình và phần lớn các doanh nghiệp nhỏ, thiếu về vốn, kỹ thuật và chiến lược dài hạn. Hai là, hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm còn chưa nằm trong một mạng lưới kết nối các đơn vị chứng nhận có tầm quốc tế, người tiêu dùng, người sản xuất, các kênh bán buôn và bán lẻ. Sự thiếu kết nối này tạo ra sự bị động cho nhà sản xuất và các doanh nghiệp phân phối cũng như người tiêu dùng khi sản xuất không dựa trên thông tin thị trường và đầu ra không ổn định.Nhóm tác giả phân tích các bài học kinh nghiệm của Thái Lan do đặc điểm tương đồng về lợi thế phát triển nông nghiệp của hai quốc gia cũng như sự thành công nhất định mà Thái Lan đã đạt được trong việc trở thành thương hiệu Bếp ăn của thế giới. Trong các bài học kinh nghiệm, Việt Nam nên ưu tiên tham khảo các chính sách có khả năng áp dụng hiệu quả nhất. Một là, khuyến khích hình thành các đơn vị chứng nhận độc lập có tầm quốc tế và hỗ trợ kết nối đơn vị chứng nhận với doanh nghiệp phân phối nông sản – thực phẩm để gây dựng niềm tin đối với người tiêu dùng và xây dựng thương hiệu dài hạn, đem lại giá trị gia tăng cao. Hai là, có chiến lược dài hạn phát triển thị trường ổn định thông qua quảng bá hình ảnh nông nghiệp quốc gia, kết nối nông sản – thực phẩm và du lịch để tạo đầu ra ổn định cho các doanh nghiệp phân phối, nhờ đó có thể ký được hợp đồng dài hạn bền vững về số lượng và chất lượng. Trong tương lai, chủ đề nghiên cứu này có thể phát triển thêm về mô hình kết hợp sản xuất và phân phối nông sản – thực phẩm từ kinh nghiệm quốc tế của các quốc gia có trình độ khoa học kỹ thuật cao về sản xuất và phân phối nông sản – thực phẩm an toàn.